Hãy nhìn lại lối sống của bạn.

Cơ chế gây phù và các nguyên nhân thường gặp

0 12.189

- Advertisement -

I. Sinh lý bệnh của hiện tượng phù

Phù là hiện tượng gia tăng dịch tại vùng mô kẽ và mô sưng nề lên, có thể khu trú hoặc toàn thân. Phù có thể khu trú tại các màng, thường gặp là tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi. Phù toàn thân hay còn gọi là phù Anasarca.

Phù không thể xảy ra ở người bình thường. Vì có một sự cân bằng chính xác giữa các lực huyết động xuyên mạch và sự toàn vẹn của hệ thống bạch huyết. Trong khi áp lực thủy tĩnh có xu hưởng đẩy dịch từ lòng mạch ra mô kẽ thì áp lực keo lại có xu hướng giữ dịch trong lòng mạch. Ở người bình thường các lực này luôn cân bằng nên rất ít dịch thoát ra khỏi lòng mạch và được hệ bạch huyết dẫn lưu đến hệ tĩnh mạch.

II. Cơ chế bệnh sinh của hiện tượng phù

Phù có thể do một hoặc nhiều cơ chế phối hợp. Các cơ chế bệnh sinh gây phù gồm có:

  • Thay đổi huyết động vùng mao mạch tạo điều kiện thuận lợi để dịch di chuyển từ lòng mạch ra mô kẽ;
  • Dịch mô kẽ không thể thoát theo đường bạch huyết vào hệ tĩnh mạch;
  • Ứ đọng dịch và muối (do chế độ ăn hoặc truyền dịch) dẫn đến tăng thể thích tuần hoàn làm tăng áp lực thủy tĩnh.

1. Thay đổi huyết động vùng mao mạch

Di chuyển dịch từ lòng mạch ra mô kẽ xảy ra khi có thay đổi một trong các thành phần sau theo luật Starling:

  • Tăng áp lực thủy tĩnh: Áp lực thủy tĩnh được tao ra bởi sự co bóp của cơ tim, có xu hướng đẩy dịch ra khỏi lòng mạch. Khi áp lực thủy tĩnh tăng cao hơn áp lực keo huyết tương làm cho lượng dịch bị đẩy ra khỏi lòng mạch nhiều hơn lượng dịch từ mô kẽ trở lại lòng mạch. Do đó gây ứ dịch ở mô kẽ gây phù. Gặp trong suy tim phải, thắt garo, …
  • Giảm áp lực keo huyết tương: Áp lực keo huyết tương do Protein (trong đó 80% là Albumin) đảm nhiệm, có vai trò giữ dịch trong lòng mạch. Bình thường lực này luôn cân bằng với áp lực thủy tĩnh. Khi áp lực này giảm thì sẽ làm mất cân bằng lực và dịch sẽ từ lòng mạch ra ngoài gian bào nhiều hơn mức bình thường gây ứ dịch mô kẽ gây phù. Thường gặp trong mọi trường hợp gây giảm Protein máu như suy dinh dưỡng, suy gan, xơ gan, thận nhiễm mỡ, bỏng, …
  • Tăng tính thấm thành mạch (với Protein): Khi thành mạch bị tổn thương gặp trong thiểu dưỡng do thiếu O2, ngộ độc, viêm, dị ứng, côn trùng đốt, … Làm thành mạch tăng tính thấm, Protein huyết tương sẽ thoát ra ngoài gian bào, làm mất áp lực keo do đó áp lực thủy tĩnh tự do đẩy dịch ra ngoài gian bào gây phù.
Cơ chế gây phù và các nguyên nhân thường gặp
Cơ chế bệnh sinh của hiện tượng phù

2. Dẫn lưu hệ bạch huyết bị tắc nghẽn

Một phần dịch ở gian bào (mô kẽ) sẽ trở lại lòng mạch thông qua hệ bạch huyết dẫn lưu vào hệ tĩnh mạch. Khi tắc nghẽn hệ bạch huyết sẽ gây ứ trệ dịch và gây phù. Gặp trong bệnh giun chỉ, viêm bạch mạch, …

3. Ứ đọng nước và muối

Ứ đọng nươc và muối có thể do nguyên phát (như trong suy thận) hoặc thứ phát do giảm cung lượng tim (như suy tim) hoặc do kháng lực mạch máu toàn thân (trong suy gan).

III. Nguyên nhân gây phù

Nguyên nhân gây phù có thể được chia theo bệnh sinh như sau:

1. Gia tăng áp lực thủy tĩnh do ứ muối và nước

a. Suy tim

Phù trong suy tim là do gia tăng áp lực thủy tĩnh vì ứ đọng muối và nước. Ứ đọng muối và nước làm tăng áp lực thủy tĩnh tại mao mạch và làm gia tăng thoát dịch từ lòng mạch vào mô kẽ. Vị trí phù thay đổi tùy thuộc vào bệnh lý tim.

  • Bệnh nhân suy tim trái thường gây phù phổi chứ không phù ngoại vi;
  • Bệnh nhân suy tim phải đơn thuần thường gây phù hai chi dưới;
  • Bệnh nhân có bệnh cơ tim thường tổn thương cả hai bên phải và trái nên vừa phù phổi vừa phù hai chi dưới.

Các dấu hiệu lâm sàng khác của suy tim là: khó thở, thở nhanh, nhịp tim nhanh, gan to, tiếng tim bệnh lý kèm theo, … Tùy vào từng bệnh tim mà có các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng khác.

b. Viêm cầu thận cấp

Phù trong viêm cầu thận cấp có thể toàn thân hoặc khu trú. Phù chủ yếu do hiện tượng ứ đọng muối và nước.

Bên cạnh phù, lâm sàng còn có tăng huyết áp, tiểu máu, tiểu protein, nước tiểu sẫm màu, tăng ure huyết.

c. Suy thận

Suy thận cấp hay mạn đều gây phù do ứ đọng muối và nước. Có rất nhiều nguyên nhân gây suy thận cấp và mạn cho bệnh nhân.

d. Do thuốc

Các thuốc điều trị tăng huyết áp làm giãn mạch có thể gây ứ đọng muối và nước dẫn đến tăng áp lực thủy tĩnh gây phù. Ví dụ thuốc Minoxidil và các thuốc chẹn kênh Calci.

2. Gia tăng áp lực thủy tĩnh do tắc nghẽn

a. Tắc tĩnh mạch

Phù khu trú trong tắc tĩnh mạch do chèn ép từ bên ngoài, do huyết khối hoặc sung huyết. Tùy theo nguyên nhân gây tắc mà phù khu trú tại vùng tổn thương. Tuy nhiên có trường hợp lại phù xa vị trí thuyên tắc. Ví dụ trường hợp huyết khối tĩnh mạch chủ dưới thì bệnh nhân có thể phù hai chân và phần thân dưới. Trong khi tắc tĩnh mạch chủ trên thì bệnh nhân có thể phù cánh tay, cổ và đầu.

Mức độ nặng của phù tùy theo vị trí huyết khối và hệ thống tĩnh mạch bàng hệ. Thông thường viêm tắc tĩnh mạch kèm đau, sừng và đôi khi sờ thấy tĩnh mạch.

Sau đây là các nguyên nhân gây ra hoặc tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch:

  • Đặt catheter tĩnh mạch;
  • Bệnh tim bẩm sinh tím;
  • Viêm mạch máu;
  • Tăng độ nhớt máu (đa hồng cầu, hồng cầu liềm);
  • Do thuốc (ví dụ thuốc ngừa thai);
  • Tình trạng bất động;
  • Bệnh lý ác tính;
  • Bệnh toàn thân (thận hư, bệnh lupus ban đỏ);
  • Các bệnh di truyền bất thường Protein C, Protein S, anti-thrombin III, yếu tố V Leiden, bệnh homocystin, …

b. Xơ gan

Xơ gan là tổn thương nhu mô gan không hồi phục với hiện tượng xơ trong gan. Xơ gan làm tăng áp lực tĩnh mạch cửa => tăng áp lực tĩnh mạch dưới gan, làm xuất hiện báng bụng và phù hai chân.

Nguyên nhân xơ gan có thể là bệnh bẩm sinh (thiếu alpha-1-anti trypsin; xơ nang tuyến; bệnh Wilson), nguyên nhân nhiễm trùng (viêm gan siêu vi), các bất thường cấu trúc (teo đường mật, bệnh Alagille).

3. Giảm áp lực keo

Tình trạng giảm Albumin máu dẫn đến giảm áp lực keo làm dịch thoát ra từ lòng mạch ra mô kẽ. Giảm Albumin máu thường gặp trong suy gan, suy dinh dưỡng, hội chứng thận hư, nhịn ăn lâu dài, …

Suy sinh dưỡng thiếu đạm nặng dẫn đến thiếu tổng hợp Albumin gây giảm Albumin máu. Các trẻ này có phù, thay đổi sắc tố da, dụng tóc, …

Bệnh ruột mất đạm (Protein): Bệnh nhân mất Albumin qua ruột dẫn đến giảm Albumin máu làm giảm áp lực keo. Do các nguyên nhân như viêm dạ dày phì đại (bệnh Menetrier), viêm ruột, phình bạch huyết ruột, … Xét nghiệm alpha-1-anti trypsin là xét nghiệm xác định bệnh ruốt mất Protein. Đây là một Protein tổng hợp ở gan, phân tử lượng 50kDa, không bị phân hủy bởi dịch vị và men ruột.

4. Gia tăng tính thấm thành mạch

Gia tăng tính thấm thành mạch thường do các yếu tố nội tại như cytokin (như yếu tố hoại tử mô interleukin). Và các yếu tố gây dãn mạch khác như histamine, bradykinin, prostaglandin, các yếu tố bổ thể C2a, yếu tố ngoại lai như nọc độc rắn, …

Phù toàn thân do yếu tố thành mạch thường gặp trong bệnh nhân bỏng hay nhiễm trùng huyết.

Bên cạnh phù bệnh nhân có hiện tượng phóng thích tại chỗ các chất gây viêm làm gia tăng tính thấm thành mạch và làm dịch di chuyển từ lòng mạch vào mô kẽ. Hiện tượng này gọi là phù mạch.

Phù mạch kèm theo hiện tượng phù lớp da ở sâu và niêm mạc do tăng tính thấm thành mạch. Cấc vùng có thể bị ảnh hưởng là mặt, môi, lưỡi, thanh quản. Phù mạch có thể phân biệt với phù toàn thân bằng các đặc tính sau:

  • Xuất hiện rất nhanh (vài phút đến vài giờ);
  • Phân bố đối xứng;
  • Ảnh hưởng môi, thanh quản, ruột;
  • Có thể có kèm theo phản ứng phản vệ.

Phù mạch có thể do phản ứng dị ứng (bao gồm cả dị ứng thuốc: ví dụ thuốc ức chế men chuyển; côn trùng cắn; hoặc thức ăn), do di truyền, do thiếu hụt mắc phải chất ức chế C1 esterase.

Phù mạch nếu ảnh hưởng đến đường hô hấp là một cấp cứu nội khoa và cần xử trí ngay. Xem ngay bài Cấp cứu Ngừng Tuần Hoàn cơ bản theo AHA năm 2019 và bài Cấp Cứu ngừng Tuần Hoàn nâng cao theo AHA 2019 để biết cách xử trí khẩn cấp.

Phù mạch do thiếu chất ức chế C1 esterase rất hiếm gặp. Có tiền sử gia đình do di truyền.

5. Hội chứng thận hư

Hội chứng thận hư là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của phù toàn thân. Hội chứng này bao gồm tiểu Protein, giảm Albumin máu, tăng Lipid máu kèm phù toàn thân.

Phù trong hội chứng thận hư là sự kết hợp của việc tăng áp lực thủy tĩnh do ứ đọng muối nước tiên phát và giảm áp lực keo do giảm Albumin máu.

Một trong những cơ chế ứ đọng muối nước trong hội chứng thận hư là do hiện tượng tiểu Protein nhiều gây chuyển đổi Plasminogen thành Plasmin trong ống thận làm hoạt hóa kênh sodium ở tế bào biểu mô (epithelial sodium channel) tại ống góp vùng vỏ thận.

Ngoài ra còn có vai trò của gia tăng tính thấm thành mạch do các yếu tố nội tại.

Các nguyên nhân gây hội chứng thận hư thứ phát gồm viêm gan siêu vi B và C, lupus ban đỏ hệ thống, nhiễm HIV, …

6. Rối loạn chức năng hoặc tắc nghẽn hệ bạch huyết

Trong trường hợp này bệnh nhân có phù khu trú do dẫn lưu bạch huyết vượt quá khả năng của hệ bạch huyết. Dẫn đến tích tụ nhiều dịch ở mô kẽ. Các bất thường này có thể do nguyên phát hoặc thứ phát.

Các nguyên nhân nguyên phát:

  • Giảm số lượng các nhánh mạch bạch huyết;
  • Thiểu sản mạch bạch huyết (giảm đường kính);
  • Tăng sản mạch bạch huyết (tăng đường kính);
  • Bất sản mạch bạch huyết (không có một số thành phần trong hệ thống bạch huyết);
  • Xơ bạch huyết.

Các bất thường sau đây thường kèm theo phù bạch huyết:

  • Phù bạch huyết bẩm sinh di truyền;
  • Hội chứng tắc mật – phù bạch huyết (Aagenaes syndrome);
  • Hội chứng Noonan, hội chứng Turner, Trisomie 18.

Phù bạch huyết thứ phát gặp trong:

  • Bệnh ung thư;
  • Nhiễm trùng giun chỉ;
  • Bệnh tự miễn Crohn.

Trên đây, OkeABC đã trình bày khá đầy đủ các cơ chế bệnh sinh gây phù và các nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh cảnh lâm sàng phù cho các bạn tham khảo. Rất vui được chia sẻ với bạn đọc.

Xem thêm bài viết Các công thức hay dùng trong chẩn đoán điều trị

- Advertisement -

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.